Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Movie12345.flv VideoJoiner170905114325.flv VideoJoiner170905113339.flv Moviekg.flv VideoJoiner170905112749.flv Moviedh.flv Movie.flv 00001.flv 00000.flv Movielienhoan.flv ANH_5D.flv HEO_DAT_155.flv Rcv.flv Vn2.flv Cuu_tro.flv Vn1.flv Anh_k1.flv MVI_0386.flv

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Ý ĐẸP LỜI HAY

    ""

    TRUYỆN CƯỜI

    Xem truyện cười

    VÀO THI VIOLYMPIC

    tgt

    CÁ CẢNH

    Chào mừng quý vị đến với website của trường Tiểu học Trần Hưng Đạo !

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    CHUYÊN ĐỀ TẬP HUẤN TLV

    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Sưu tầm
    Người gửi: Phạm Xuân Toạn (trang riêng)
    Ngày gửi: 20h:16' 29-12-2015
    Dung lượng: 96.7 KB
    Số lượt tải: 9
    Số lượt thích: 0 người
    GIÁO TRÌNH
    Ngữ pháp văn bản và dạy học
    Tập làm văn ở tiểu học
    Người biên soạn:
    TS. Chu Thị Hà Thanh
    Cấu trúc chuyên đề
    Chương 1: Giản yếu về Ngữ pháp văn bản
    Chương 2: Ứng dụng lí thuyết Ngữ pháp văn bản vào quá trình dạy học Tập làm văn ở tiểu học
    Chương 3: Ứng dụng lí thuyết Ngữ pháp văn bản vào xây dựng hệ hống bài tập rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn, bài văn
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    1. Diệp Quang Ban, Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998.
    2. Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Quang Ninh, Trần Ngọc Thêm, Ngữ pháp văn bản và việc dạy làm văn, Nxb Giáo dục, 1985.
    3. Bộ giáo dục và Đào tạo, Tiếng Việt 2- 5, Nxb Giáo dục, H, 2002.
    4. Phan Mậu Cảnh, Ngôn ngữ học văn bản, Đại học Vinh, 2002
    5. Nguyễn Quang Ninh, Một số vấn đề dạy ngôn bản nói và viết theo hướng giao tiếp (sách bồi dưỡng thường xuyên chu kì 1997 - 2000), Nxb Giáo dục, H, 1998.
    6. Chu Thị Hà Thanh, Ứng dụng những thành tựu nghiên cứu về ngữ pháp văn bản vào dạy Tập làm văn ở tiểu học, Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt 11/2005.
    7. Chu Thị Hà Thanh, Xây dựng hệ thống bài tập liên kết câu nhằm rèn luyện kỹ năng sản sinh văn bản, Tạp chí Giáo dục, Đặc san11/2006.
    8. Chu Thị Hà Thanh, Trần Thanh Thắng, Thực trạng nhận thức của giáo viên và học sinh về Lý thuyết ngữ pháp văn bản trong dạy học Tập làm văn ở tiểu học, Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt 11/2006.
    9. Chu Thị Hà Thanh, Đoạn văn trong Lý thuyết Ngữ pháp văn bản và cách dựng đoạn trong bài làm văn ở tiểu học, Tạp chí Giáo dục, số 9/2007.
    10. Nguyễn Trí, Dạy Tập làm văn ở tiểu học, Nxb Giáo dục,H, 2001.
    Chương 1: Giản yếu về Ngữ pháp văn bản
    1.1. Sự hình thành NPVB và việc dạy học Tập làm văn

    Trên thế giới, ngữ pháp văn bản (NPVB) được nghiên cứu từ những năm 50, 60 của thế kỷ trước.
    Ở Việt Nam, văn bản được nghiên cứu dưới góc độ là một lý thuyết khoa học mới chỉ bắt đầu khoảng vài, ba chục năm trở lại đây, mặc dù mầm mống của nó có thể nảy sinh rất lâu.
    Từ năm 1989 - 1990, NPVB được chính thức đưa vào nhà trường phổ thông với tư cách như một phân môn của môn Tiếng Việt ở cấp phổ thông trung học cơ sở.
    Các nhà biên soạn CT-SGK Tiếng Việt TH đã chú trọng giới thiệu áp dụng những thành tựu của lý thuyết NPVB vào các quá trình dạy học phân môn TLV.

    1.1.1. Những hạn chế của ngữ pháp câu

    - Không đủ để giải thích nhiều hiện tượng biểu hiện trong phạm vi câu nhưng lại có liên quan đến câu khác. Ví dụ: trường hợp câu đặc biệt, câu tỉnh lược …
    - Không đủ đáp ứng những nhu cầu thực tiễn của việc giao tiếp.
    - Không đủ đáp ứng những nhu cầu thực tiễn của việc phân tích các tác phẩm văn học.
    - Không đáp ứng được việc dạy học trong nhà trường.
    1.1.2. Sự xuất hiện của ngữ pháp văn bản

    Ngôn ngữ được nghiên cứu đầy đủ hơn, chính xác hơn ở cả hai mặt phương tiện và cả mặt giao tiếp. Ngôn ngữ vừa được miêu tả về cấu trúc, hệ thống, vừa được phân tích cụ thể về việc thực hiện chức năng. Sự thống nhất chặt chẽ giữa hai mặt này đã đưa việc nghiên cứu văn bản- một đơn vị giao tiếp quan trọng thành một trong những vấn đề cấp bách. Đây là nguyên nhân cơ bản thúc đẩy sự ra đời của bộ môn ngôn ngữ mới: Ngữ pháp văn bản.
    1.1.3. NPVB và việc dạy Tập làm văn ở trường phổ thông

    “Luận văn thi phạm” Nghiêm Toản -1950,“Phương pháp làm văn nghị luận” của Thẩm Thệ Hà- 1959, “Quốc văn giáo khoa thư”
    Năm 1973 Nguyễn Tài Cẩn và Nona Xtankêvich viết: “thử coi một đoạn văn một bài thơ hoặc thậm chí coi cả một chương sách, một bộ sách như là một loại đơn vị nào đó, có một chức năng vào đó về mặt thông báo thì rõ ràng là có thể hình dung lại vấn đề một cách khác trước”.
    Các công trình nghiên cứu đánh dấu sự phát triển của ngành văn bản và ứng dụng của nó vào dạy học làm văn như: Ngữ pháp văn bản và việc dạy làm văn (Nguyễn quang Ninh), Làm văn (Lê A), Ngữ pháp văn bản (Đỗ Hữu Châu), Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt (Trần Ngọc Thêm), Giao tiếp văn bản- Mạch lạc-Liên kết- Đoạn văn (Diệp Quang Ban), Ngôn ngữ học văn bản (Phan Mậu Cảnh)…
    Một số công trình nghiên cứu sự ứng dụng NPVB vào dạy học Tập làm văn ở tiểu học như: Dạy Tiếng Việt ở trường tiểu học, Một số vấn đề dạy ngôn bản nói và viết ở tiểu học theo hướng giao tiếp (Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho GVTH), Phương pháp dạy học Tiếng Việt 2 (Lê Phương Nga), Dạy tập làm văn ở trường tiểu học, Dạy Tiếng Việt ở trường tiểu học theo chương trình mới (Nguyễn Trí)…






    1.2. Văn bản
    1.2.1. Khái niệm văn bản
    1.2.1.1.Một số quan niệm khác nhau về văn bản







    Hiện nay tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về văn bản.
    Có những định nghĩa còn chung chung, chưa mang màu sắc ngôn ngữ học như định nghĩa: "Văn bản là mọi bài viết được in ấn và lưu hành chính thức trong xã hội".
    Có nhiều định nghĩa cố gắng đi sâu vào bản chất ngôn ngữ mà tiêu chí cơ bản là tính liên kết và tính hoàn chỉnh của văn bản. "Văn bản - đó là tác phẩm của quá trình tạo lời, mang tính chất hoàn chỉnh, được khách quan hoá dưới dạng tài liệu, được chải chuốt văn chương theo loại hình tài liệu ấy, là tác phẩm gồm tên gọi (đầu đề) và có một loại đơn vị riêng (những thể thống nhất trên cần hợp nhất lại bằng loại hình logic, tu từ), có một hướng đích nhất định và một mục tiêu thực dụng".
    Trong giáo trình Tiếng Việt, tác giả Nguyễn Đức Dân định nghĩa: “Văn bản là kết quả của một quá trình tạo lời nhằm một mục đích nhất định: chuyển một nội dung hoàn chỉnh cần thông báo thành câu chữ”
    Trong cuốn Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Nói một cách chung nhất thì văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu mới chỉ là phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc. Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và toàn bộ văn bản nói chung. Sự liên kết là mạng lưới của những mối quan hệ và liên hệ ấy”.
    Theo quan điểm của Diệp Quang Ban: “Văn bản là một loại đơn vị được làm thành từ một khúc đoạn lời nói hay lời viết, hoặc lớn hoặc nhỏ, có cấu trúc, có đề tài… Loại nhỏ như một truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một bảng chỉ đường…”
    Tác giả Phan Mậu Cảnh trong cuốn Ngôn ngữ học văn bản cho rằng: “Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, là đơn vị được tạo lập bởi sự liên kết các câu, các đoạn văn… tạo thành một thể thống nhất, một đơn vị hoàn chỉnh về nội dung và hình thức, mang tính phong cách và nhằm một mục đích nhất định”.
    Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Văn bản là chuỗi kí hiệu ngôn ngữ hay nói chung những kí hiệu thuộc một hệ thống nào đó, làm thành một chỉnh thể mang nội dung ý nghĩa trọn vẹn” .
    Văn bản là sản phẩm của quá trình tạo lời, có tính thống nhất trọn vẹn về nội dung ý nghĩa và hoàn chỉnh về hình thức.


    1.2.1.2. Giao tiếp và ngôn bản

    Giao tiếp là hoạt động tiếp xúc giữa các cá nhân trong xã hội nhằm thực hiện một mục đích nhất định.
    Ngôn bản là chuỗi các yếu tố ngôn ngữ mà người giao tiếp tạo nên để truyền đạt nội dung giao tiếp.
    Văn bản: là biến thể dạng viết liên tục của ngôn bản thực hiện một hoặc một số đích nhất định.
    Đó là sản phẩm của hoạt động giao tiếp, bao gồm các chuỗi phát ngôn liên tục dưới hình thức viết.
    Sản phẩm đó nhằm mục đích giao tiếp nhất định.
    Văn bản có quan hệ hướng nội và hướng ngoại
    2.2. Đặc trưng của văn bản
    2.2.1. Văn bản có tính chỉnh thể

    Sông núi nước Nam

    Sông núi nước Nam, vua Nam ở
    Rành rành đã định tại sách trời
    Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
    (Lý Thường Kiệt)
    Như vậy, tính hoàn chỉnh của văn bản được biểu hiện ra bằng tính thống nhất về nội dung và tính trọn vẹn về hình thức tương ứng của VB.

    2.2.2. Văn bản có tính liên kết, mạch lạc

    a. Trường học là ngôi nhà thứ hai của em. Bố Giang tặng cho Giang một quyển vở. Bình yêu nhất là đôi bàn tay mẹ. Bé vẽ ngựa chẳng ra hình con ngựa. Cái bống là cái bống bang. Ngay ở đầu hè nhà em có một cây hoa ngọc lan.

    b. Lúc mới chào đời, chú công có cái đuôi nhỏ xíu hình rẻ quạt. Quạt thường được dùng vào mùa hè để quạt cho người ta đỡ nóng. Nóng là một tính từ chỉ mức độ nhiệt ở trên mức trung bình. Trung bình, mỗi năm miền trung phải hứng chịu từ 10 đến 12 cơn bão.




    c. Khi thuyền chìm đến mức đã đánh dấu, ông sai cân chỗ đá ấy và biết voi nặng bao nhiêu. Sau đó ông cho voi lên bờ và xếp đá vào thuyền. Lương thế Vinh sai Lính dắt voi xuống thuyền, đánh dấu mức chìm của thuyền. Một lần, sứ thần Trung Hoa thử tài Lương Thế Vinh, nhờ ông cân hộ con voi.
    d. Một lần, sứ thần Trung Hoa thử tài Lương Thế Vinh, nhờ ông cân hộ con voi. Lương thế Vinh sai Lính dắt voi xuống thuyền, đánh dấu mức chìm của thuyền. Sau đó ông cho voi lên bờ và xếp đá vào thuyền. Khi thuyền chìm đến mức đó đánh dấu, ông sai cân chỗ đá ấy và biết voi nặng bao nhiêu.
    * Liên kết chính là mạng lưới các mối quan hệ về nội dung và hình thức giữa các thành tố trong văn bản, đồng thời đó cũng là mối quan hệ giữa văn bản với nhân tố nằm ngoài văn bản [11, Tr 23].

    * Theo Từ điển Hán – Việt, mạch lạc là “sự liên tiếp rõ ràng giữa các bộ phận” [10, Tr. 29]. Còn theo Từ điển Tiếng Việt thì mạch lạc là “sự tiếp nối theo một trật tự hợp lý giữa các ý, các phần trong nội dung biểu đạt” [18, Tr. 606].
    2.2.3. Văn bản có tính mục tiêu thực dụng

    Mời trầu

    Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi
    Này của Xuân Hương đã quệt rồi Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh như lá, bạc như vôi.

    (Hồ Xuân Hương)

    2.3. Kết cấu của văn bản

    Kết cấu của văn bản là kết quả của việc sắp đặt, tổ chức các bộ phận ngôn từ có nghĩa của văn bản theo một cấu trúc nhất định. Con ngựa
    Con ngựa của ông Trắc mới to cao làm sao! Ông đứng cạnh, bụng nó chấm vai ông. Đã to, nó lại trường.
    Hai tai to dựng đứng trên cái đầu rất đẹp. Hai lỗ mũi ươn ướt động đậy hoài. Mỗi khi nó nhếch môi lên lại để lộ hai hàm răng trắng muốt. Bờm nó được ông Trắc xén cắt rất phẳng. Ngực nở. Bốn chân nó khi đứng cũng cứ giậm lộp cộp trên đất. Cái đuôi dài hết ve vẩy sang phải lại sang trái. Ông Trắc đặt tên cho nó là Hồng Vân. Theo ý ông tên đó hay lắm vì lông nó màu hung hung mà nó lại chạy nhanh. Từ nước kiệu sang nước đại, nước nào cũng khá cả.
    Con ngựa mến ông Trắc lắm. Người lạ đến rất dễ bị nó đá hoặc nó cắn nhưng ông Trắc đến thì nó ngoan ngoãn cúi đầu.


    1.2.4. Các giai đoạn sản sinh văn bản

    Thực hiện một văn bản là chúng thực hiện một hoạt động giao tiếp, do đó vấn đề đặt ra là cần phải đạt được chiến lược giao tiếp. Chiến lược giao tiếp được thể hiện một cách cụ thể trong đề cương văn bản - đó chính là các giai đoạn SSVB. Theo lí thuyết NPVB, quy trình SSVB gồm bốn giai đoạn: định hướng, lập đề cương, thực hiện và giai đoạn cuối cùng là kiểm tra văn bản.

    a) Giai đoạn định hướng

    - Khi tạo lập một văn bản người viết cần phải có định hướng cho văn bản đó. Hay nói đúng hơn người viết cần phải xác định rõ các nhân tố giao tiếp, mục đích giao tiếp và cách thức trình bày.
    - Các nhân tố giao tiếp bao gồm: đối tượng giao tiếp, nội dung giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp và cách thức giao tiếp.

    b) Giai đoạn lập đề cương (hay làm dàn bài, dàn ý)
    Đề cương của văn bản bao gồm nhiều ý chính, luận điểm cơ bản cùng với những luận cứ cần thiết, nghĩa là những điều cốt yếu trong văn bản. Nhiệm vụ của người tạo tập văn bản là phải sắp xếp các ý chính, luận điểm, luận cứ thành bộ khung cho văn bản.. Đề cương văn bản bao gồm hai loại: Đề cương sơ lược và Đề cương chi tiết:

    c) Giai đoạn thực hiện văn bản

    Từ đề cương đã có người viết chuyển hoá thành văn bản. Đề cương đó sẽ được hiện thực hóa dưới 2 hình thức: nói hoặc viết. Tuy nhiên để viết được một văn bản hoàn chỉnh, người viết phải trải qua việc luyện tập công phu về khả năng dùng từ đặt câu, dựng đoạn, tách đoạn, dùng các phương tiện liên kết sao cho phù hợp và cuối cùng tiến lên viết một VB hoàn chỉnh.

    d) Giai đoạn kiểm tra văn bản
    Việc kiểm tra văn bản nhằm xem xét lại văn bản đã tạo ra có phù hợp với các bước đã thực hiện hay không. Nếu sai sót cần điều chỉnh lại.

    1.3. Đoạn văn
    1.3.1. Khái niệm đoạn văn

    Quan điểm thứ nhất: ĐV là một tập hợp nhiều câu, diễn tả tương đối trọn vẹn một ý và có quan hệ với nhau về ngôn ngữ và tư duy.
    Quan điểm thứ hai: ĐV là một phần của văn bản nằm giữa hai chỗ xuống dòng.
    Chúng tôi quan niệm: Đoạn văn là phần văn bản nằm giữa hai dấu chấm xuống dòng. Nó thể hiện một tiểu chủ đề
    1.3.2. Câu chủ đề
    Câu chủ đề của ĐV là câu mang nội dung thông tin chính, khái quát nội dung của toàn đoạn. Lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chủ ngữ, vị ngữ và phần lớn đứng ở đầu ĐV. Về phía người tiếp nhận văn bản, câu chủ đề giúp họ tiếp nhận chính xác, nhanh chóng nội dung thông tin chính của đoạn nhờ đó phát hiện ra thông tin chính của toàn bộ văn bản.
    1.3.3. Các loại đoạn văn



    Thiên nhiên Hạ Long chẳng những kì vĩ mà còn duyên dáng. Nét duyên dáng của Hạ Long chính là cái tươi mát của sóng nước, cái rạng rỡ của đất trời. Sóng nước của Hạ Long quanh năm trong xanh. Bốn mùa của Hạ Long bốn mùa sáng nắng. Bốn mùa của Hạ Long mang trên mình một màu xanh đằm thắm: Xanh biếc của biển, xanh lam của núi, xanh lục của trời. Màu xanh ấy như trường cửu, lúc nào cũng bát ngát, cũng trẻ trung, cũng phơi phới.
    (Tiếng Việt 5. Tập 1. Tr 70)
    Cùng một mảnh vườn sao lời cây ớt cay, lời cây sung chát, lời cây cam ngọt, lời cây móng rồng thơm như mít, lời cây chanh chua… Trăm cây trong vườn đều sinh ra từ đất. Đất nuôi dưỡng cây bằng sữa của mình. Đất truyền cho cây sắc đẹp mùa màng. Chính đất là mẹ của các loài cây. (Trần Mạnh Hảo)
    Căn nhà tôi ở núp dưới rừng cọ. Ngôi trường tôi học cũng khuất trong rừng cọ. Ngày ngày đến lớp, tôi đi trong rừng cọ. Không đếm được có bao nhiêu tàu lá cọ xoè ô lợp kín trên đầu. Ngày nắng, bóng râm mát rượi. Ngày mưa, cũng chẳng ướt đầu. (TViệt 4. Tập 1, Tr 63)

    Muốn tăng gia sản xuất phải làm thuỷ lợi để chống thiên tai. Muốn làm thuỷ lợi phải có nhiều người có sức lớn. Và muốn như vậy phải xây dựng hợp tác xã. (Hồ Chí Minh)
    Hai Long phóng xe về phía Phú Lâm tìm hộp thư mật. (Tiếng Việt 5. Tập 2. Tr 77)
    Ông tôi vốn là thợ gò hàn loại giỏi. Có lần, chính mắt tôi đã trông thấy ông tán chiếc đinh đồng. Chiếc búa trong tay ông hoa lên, nhát nghiêng, nhát thẳng, nhanh đến mức tôi chỉ cảm thấy trước mặt ông phất phơ những sợi tơ mỏng. Ông là niềm tự hào của cả gia đình tôi.
    (Tiếng Việt 3. Tập 1. Tr 25)

    1.3.4. Tách đoạn, liên kết đoạn trong văn bản

    a. Tách đoạn là xếp một hay một số câu vào một ĐV, bằng cách đó tách nó ra khỏi phần văn bản trước nó và sau nó, nhằm những mục đích diễn đạt nhất định. Chúng ta có thể dựa vào hai căn cứ chung nhất để tách đoạn:
    - Dựa vào vai trò và nhiệm vụ của ĐV trong cấu tạo chung của văn bản . Trong văn bản, theo cách tách đoạn này, chúng ta có thể tách thành ĐV làm phần mở bài, ĐV làm phần thân bài (đối với các văn bản ngắn) và ĐV làm phần kết bài.
    - Dựa vào những biến đổi trong quan hệ nội dung giữa các ĐV.
    + Tách thành ĐV sau mỗi vật, mỗi việc, mỗi hiện tượng khác nhau.
    + Tách thành ĐV sau mỗi thời điểm, thời hạn khác nhau.
    + Tách thành ĐV sau mỗi điểm, mỗi hướng không gian khác nhau.
    + Tách thành ĐV sau mỗi mặt, mỗi địa điểm, mỗi tác dụng khác nhau của một vật, hiện tượng.
    b. Các phương tiện liên kết hình thức để kết nối các đoạn trong văn bản
    - Dùng các phương tiện liên kết câu ở các câu giáp giới giữa hai đoạn (câu cuối đoạn trước và câu đầu đoạn sau) như dùng từ ngữ nối.
    - Dùng các phương tiện liên kết đoạn: các từ ngữ lặp lại ở các câu mở đầu đoạn. Các câu này tuy cách xa nhau nhưng nhờ những từ ngữ lặp lại, các cấu trúc lặp lại, nhờ các số thứ tự chỉ sự chuyển tiếp…mà chúng lại có tác dụng liên kết các đoạn với nhau.
    - Dùng câu nối. Câu nối là loại câu không mang thông tin, có chức năng chuyên dụng là để liên kết. Nó có thể đứng đầu hoặc cuối ĐV hoặc có thể tách thành đoạn độc lập.
    1.4. Liên kết và liên kết câu trong văn bản

    Liên kết là mạng lưới các mối quan hệ trong nội bộ văn bản cũng như giữa văn bản với những yếu tố ngoài VB.

    1.4.1. Liên kết nội dung trong văn bản
    * Liên kết chủ đề: Là cách thức làm cho phần trong văn bản hướng vào chủ đề, xoay quanh chủ đề chung. Các câu được xem là có liên kết chủ đề khi chúng đề cập đến một đối tượng chung hoặc các đối tượng có quan hệ mật thiết với nhau.
    * Liên kết lôgic: Là sự tổ chức, sắp xếp nội dung và các thành tố sao cho phù hợp với thực tế khách quan và với nhận thức của con người.
    Gà gáy. Chó sủa. Chim hót véo von./
    Chim sủa. Chó gáy. Gà hót véo von.
    1.1.4.2. Liên kết hình thức trong văn bản
    Các mặt liên kết đề tài, chủ đề, logic phải được thể hiện ra ngoài bằng những phương thức và những phương tiện nhất định. Phương tiện liên kết là yếu tố ngôn ngữ được sử dụng nhằm làm bộc lộ mối dây liên hệ giữa các bộ phận có liên kết với nhau. Cách sử dụng những phương tiện liên kết cùng loại xét ở phương diện cái biểu hiện được gọi là Phép liên kết (Phương thức liên kết). Chúng bao gồm các phương tiện liên kết nằm trong các phép liên kết sau đây:
     
    Gửi ý kiến

    ↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓


    BẢN ĐỒ DU LỊCH